[Đăng ngày: 09/03/2017]

  1. Nữ Đại biểu Quốc hội đầu tiên của tỉnh Khánh Hòa

  Ở huyện miền núi Khánh Sơn nói riêng và trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Raglai tỉnh Khánh Hòa nói chung, không ai không biết đến chị Bo Bo Thị Yến, nữ Đại biểu Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XII nhiệm kỳ 2007- 2011. Có lẽ vì chị là người đầu tiên đại diện cho giới nữ của dân tộc Raglai trên địa bàn tỉnh ghi tên mình vào danh sách nữ đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

  Chị tham gia làm đại biểu quốc hội khi tuổi đời mới tròn 30 tuổi, đang tràn đầy sức sống, khát khao mãnh liệt vươn lên như cây Tô Hạ hương (cayơu Turủq) trên quê hương Khánh Sơn, nơi được mệnh danh là thung lũng tử thần với quân giặc cướp nước và là thung lũng tình yêu với mọi người. Tô Hạp, thung lũng tình yêu còn được tô điểm bằng những dòng sông, con suối uốn lượn, trên những vùng đất đỏ phù sa, mầu xanh của cây lúa, cây cà phê, màu cây mía tím cùng các loại cây ăn quả nổi tiếng như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mít nghệ…

  Nhớ lại thời gian làm nhiệm vụ Đại biểu Quốc hội, chị Yến tâm sự: Nếu anh gọi tôi là người có nhiều cái nhất, thì tôi không dám nhận, nhưng nếu là người có cái không giống ai nhất thì quả là không sai. Có lẽ tôi là đại biểu Quốc hội nữ dân tộc thiểu số đầu tiên đi họp mang theo mẹ chồng và đứa con trai mới sinh được 6 tháng tuổi. Anh biết đấy, mỗi kỳ họp Quốc hội thường kéo dài hơn một tháng, ngoài ra còn phải làm nhiệm vụ thành viên Hội đồng dân tộc của Quốc hội nên thường xuyên phải tham gia các hoạt động giám sát, cho nên hay đi các tỉnh miền núi xa xôi. 

  Chị cười hiền hậu và nói tiếp: Thế rồi mọi chuyện khó khăn vất vả dần dần cũng qua đi với hai mẹ con. Sau 4 năm gánh vác trọng trách, chị đã hoàn thành chức trách, nhiệm vụ đại diện cho ý chí nguyện vọng của cử tri tỉnh nhà cũng như cử tri của vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi đã bỏ phiếu bầu cho mình.

  Tôi hỏi chị, điều gì đã tạo cho chị một nghị lực mạnh mẽ như vậy? Trầm ngâm suy tư một lúc chị nói: Có lẽ “cái đói, cái nghèo, cái khổ” (voh lapa, voh casoq, voh rabãh) của dân tộc mình đã thấm vào máu, vào thịt, vào xương mình từ lúc còn nhỏ, cho nên những khó khăn, vất vả bây giờ so với những gì tuổi thơ mình đã từng nếm trải có lẽ dễ chịu hơn nhiều”.

  Nghe chị tâm sự như vậy tôi đã hiểu được phần nào, vì bản thân tôi cũng đã từng có 26 năm 6 tháng cùng làm, cùng ăn và cùng ở với đồng bào. Cho nên cái “chất” của người dân tộc Raglai nổi trội nhất đã được trui rèn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, gan dạ, dũng cảm, thông minh lấy chông, tên độc chống lại vũ khí hiện đại của kẻ thù, lấy vũ khí địch đánh địch, không ngại gian khổ, hy sinh, nêu cao tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Truyền thống chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ quê hương của cha ông đã thấm sâu, tôi luyện chị từ bé cho đến khi trưởng thành. 

  Chỉ kể; chị sinh ra tại xã Miền I (nay là xã Sơn Bình và Sơn Hiệp), ông bà chị vốn là dân gốc Suối Lâu (Diên Khánh), trong kháng chiến chống Pháp, cũng như đa số bà con lúc bấy giờ đã tham gia phong trào đấu tranh chống lại chính sách thuộc địa hà khắc của thực dân nên bị chúng đàn áp, lùng bắt… phải rời bỏ quê hương lên Pajrai (khi thành lập Khu Ái-Vĩnh-Sơn được gọi là Miền I) tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Bố mẹ chị là nông dân, cuộc sống gia đình rất nghèo, thu nhập hàng năm chủ yếu nhờ cây lúa, cây bắp, cây mỳ trên nương rẫy, năm nào “thần linh” (Vanữq Garai nãi Vuơl) thương thì được mùa, đủ cái ăn, gặp năm nắng hạn, lũ lụt, mất mùa thì cả nhà đều bị đói. 

  Trong nhà có 4 chị em gái, chị là con gái đầu (anảq cumơi cachua) trong gia đình, ngoài việc đi học ra còn phải cùng cha mẹ lên nương rẫy trỉa lúa, bắp, trồng cây mì, bẻ măng, hái rau rừng… gùi nặng qua từng con dốc, những cơn sốt rét rừng nghiệt ngã tưởng chừng không qua khỏi. Bạn bè cùng trang lứa với chị nhiều người đã nghỉ học để ở nhà phụ giúp gia đình. 

  Hoàn cảnh nghiệt ngã đó đã không khuất phục được chị. Lúc đó chị chỉ có một suy nghĩ phải làm sao để gia đình mình thoát ra khỏi cái đói, cái nghèo đeo đẳng từ bao đời. Muốn thế, không có con đường nào khác ngoài việc phải cố gắng học tập, chỉ có cái chữ nó mới làm cái đầu mình sáng ra, mới giúp mình “no cái bụng” (trơi voh tuc) được. Nghĩ là làm, bằng nghị lực hiếm có, chị đã vượt qua bao khó khăn, thách thức. Trước hết phải vượt qua rào cản về tâm lý, mình lo học thì ai đỡ đần cho cha mẹ, rồi cái tính e rè, tự ti và nhất là không muốn sống xa nhà, đã ăn sâu vào tâm lý của dân tộc chị bao đời nay; cùng với những khó khăn kinh tế, rồi chuyện “bắt chồng” (khiãng sudiq vusàc) theo phong tục của nguời dân tộc. 

  Song với sự quyết tâm ra đi tìm cái chữ để xóa cái tăm tối lạc hậu trong cái đầu, góp phần xóa cái đói, cái nghèo từ đời này qua đời khác; Chị đã trở thành người phụ nữ dân tộc Raglai đầu tiên của huyện Khánh Sơn; tốt nghiệp hệ cao đẳng chính quy chuyên ngành sư phạm. 

  Theo gương chị, giờ đây các em gái của chị đều đã trưởng thành. Cô em gái kề chị tốt nghiệp đại học sư phạm Quy Nhơn, là giáo viên trường THCS xã Sơn Bình; em gái thứ ba là nữ hộ sinh làm việc tại Phòng khám đa khoa khu vực xã Sơn Lâm và cô em gái út hiện là nhân viên của một trường mần non. Không mấy gia đình có nhiều người học hành đến nơi đến chốn và có công việc ổn định như gia đình chị. 

   Bo Bo Thị Yến - Phó Chủ tịch UBND huyện Khánh Sơn

  2. Nữ Phó Chủ tịch UBND huyện đầu tiên 

  Nhớ lại ngày chị mới ra trường, khi đó tôi đang là Phó Chủ tịch huyện phụ trách khối văn xã.

  Một hôm tôi nhận được điện thoại của nhà báo Châu Lê Thịnh biên tập viên chuyên đề phụ nữ Đài phát thanh truyền hình Khánh Hòa (PT- TH), đề nghị UBND huyện, bố trí cho gặp một cô giáo người dân tộc thiểu số, mới tốt nghiệp hệ cao đẳng chính quy chuyên ngành sư phạm Sử - địa lý, hiện đang dạy tại trường dân tộc nội trú huyện Khánh Sơn (trường trực thuộc sở Giáo dục – Đào tạo, giáo viên do sở tuyển dụng điều động).

  Thật sự lúc đó tôi rất ngỡ ngàng mới biết huyện mình có cô giáo người Raglai, đạt trình độ học vấn cao đẳng. Nói điều này ra bây giờ thì thật là quá dễ dàng, nhưng trước năm 2000, thì vô cùng khó khăn. 

  Từ một cô giáo có trình độ cao đẳng (giờ đây chị đã có tấm bằng cử nhân), tinh thần vượt khó, ham học của chị đã lan tỏa, tác động không nhỏ trong giới nữ người dân tộc Raglai. Nhiều chị em đã vượt lên tính nhút nhát, tự ti, không quản ngại phải đi xa nhà, tích cực phấn đấu theo con đường học vấn. Đến nay đội ngũ chị em nữ dân tộc Raglai đã có mặt hầu hết các lĩnh vực công tác.

  Đông nhất hiện nay là lực lượng giáo viên, ông Nguyễn Tấn Lâm Trưởng phòng Giáo dục huyện Khánh Sơn cho biết: Chỉ tính riêng đội ngũ nữ giáo viên do phòng Giáo dục quản lý thì nữ giáo viên người dân tộc thiếu số chiếm gần 25% (82/384 người), trong đó trên 50 chị có trình độ chuyên môn từ cao đẳng đến đại học, ngành Y tế hiện nay có 15 chị, trình độ từ trung cấp đến cao đẳng. 

  Về khối Đảng, đoàn thể có 1 chị là Thường vụ Huyện ủy chủ tịch mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện, 1chị là Phó chủ tịch liên đoàn huyện, và nhiều chị có trình độ nghiệp vụ chuyên môn từ trung cấp trở lên.

  Phải nói rằng các nhiệm kỳ trước đây khối chính quyền vắng bóng cán bộ nữ dân tộc. Chị là người Phụ nữ dân tộc đầu tiên được bổ nhiệm chức danh Chánh Văn phòng UBND huyện từ đầu nhiệm kỳ 2011- 2016, đến cuối nhiệm kỳ, Chị lại một lần nữa ghi dấu ấn là người phụ nữ dân tộc đầu tiên giữ cương vị Phó Chủ tịch UBND huyện Khánh Sơn. 

  Theo sau chị hiện nay đã có thêm 4 chị đang công tác tại các cơ quan thuộc UBND huyện. Qua trao đổi với bà Cao Thị Hiền, quyền Trưởng phòng Nội vụ huyện, biết thêm: Ngoài bản thân bà ra thì nhiệm kỳ này có bà Mấu Thị Thị (con gái của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Bo Bo Tới) được bầu giữ chức Phó Chủ tịch HĐND huyện. Chưa bao giờ trong khối chính quyền có 2 Phó Chủ tịch huyện, riêng chị Bo Bo Thị Yến được tái bầu cử chức danh Phó chủ tịch UBND huyện nhiệm kỳ 2 (2016 -2021). Quả là tuyệt vời, có lẽ nằm mơ những người làm công tác tổ chức cán bộ huyện Khánh Sơn cũng không dám ước có nhiều cán bộ nữ giữ các chức danh chủ chốt của huyện như thế.

  Có được như ngày hôm nay, ngoài sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền ra còn có phần rất lớn ở sự quyết tâm của bản thân mỗi chị. Các chị đã vượt qua bao khó khăn từ việc nhà, đến việc cơ quan để tích cực tham gia học tập, nhằm đạt đủ chuẩn về trình độ chuyên môn và chính trị cho mỗi chức danh công tác, tạo cho mình một vị thế bằng chính nỗ lực của mình. Các chị đã góp phần đưa chủ trương bình đẳng giới của Đảng và Nhà nước đi vào thực chất trong cuộc sống.

  3. Nữ giáo viên dạy tiếng dân tộc Raglai đầu tiên cho cán bộ

  Cuộc đời thật nhiều điều bất ngờ, thật sự không bao giờ tôi nghĩ tôi lại trở thành một cậu học trò ngoan và siêng năng học tập của chị. 

  Chuyện là như thế này: Sau sự kiện lợi dụng tự do dân chủ của Nhà nuớc, một số phần tử phản động ở Tây nguyên kích động lôi kéo bà con người dân tộc đi theo chúng để thành lập cái gọi là nhà nước (ĐỀGA) vào năm 2002. 

  Trước tình hình phức tạp ấy, chính phủ có nhiều chỉ thị, yêu cầu cán bộ người Kinh đang công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiếu số phải nghe được, nói được tiếng người dân tộc địa phương. Điều này quả thật rất khó khăn với huyện, vì dân tộc Raglai chỉ có ngôn ngữ, không hề có chữ viết, vậy làm sao có chữ viết và thầy cô giáo để dạy cho cán bộ.
 
  Vậy là nhóm thực hiện đề tài sưu tầm, nghiên cứu và hoàn thiện chữ viết Raglai do ông Trần Vũ nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện chủ nhiệm đề tài, cùng với một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa dân tộc như ông Nguyễn Thế Sang, ông Mấu Quốc Tiến … Sau một thời gian ngắn đã cho ra đời cuốn từ vựng tiếng Raglai 5.576 từ và bộ giáo trình “Bài học tiếng Ralai” (Catih sràq sanãp Raglai), “Bài học tiếng Raglai dùng cho ngành Y tế” (Catih sràq sanãp Raglai pioh vrơi ga voh ngan Y Tế) và Tài liệu củng cố giáo viên dạy tiếng Raglai (Pacơp pakìq pachanq pato po pato pato sanãp Raglai). Gọi là giáo trình cho oai chứ, thực sự lúc đó do nhu cầu phải biên soạn theo những nội dung cơ bản trong giao tiếp với đồng bào địa phương, chứ chẳng có cơ quan nào thẩm định, phê duyệt cho phép in ấn, xuất bản, cho nên cũng đâu có cơ quan chức năng nào cấp phép dạy tiếng Raglai. Để có người đứng ra giảng dạy tiếng Raglai, ông Trần Vũ, chủ nhiệm đề tài cùng ông Mấu Quốc Tiến đã mạnh dạn đứng ra tổ chức phổ cập bộ chữ tiếng Raglai theo đề tài khoa học xã hội đã được Hội đồng KHXH tỉnh nghiệm thu năm 1997, cho 8 giáo viên người Raglai, trong đó có chị Bo Bo Thị Yến. 

  Do nhu cầu cấp bách trong công tác dân vận, nên lớp học tiếng Raglai cho cán bộ chủ chốt của huyện cũng được khai giảng. Cô giáo chính của lớp không ai khác hơn là cô giáo Bo Bo Thị Yến. Sau 3 tháng gồm 125 tiết học tập nghiêm túc khóa 1 tiếng Raglai cũng kết thúc, các học viên phải làm bài kiểm tra và vấn đáp bằng tiếng Raglai. Học viên đáp ứng được yêu cầu viết, nghe và nói tiếng Raglai là đạt tiêu chuẩn. 

  Giờ đây việc học tiếng Raglai đã được phổ cập rộng rãi cho đội ngũ cán bộ đang công tác tại các huyện, thị xã thành phố có đồng bào dân tộc Raglai sinh sống trong tỉnh. Bên cạnh đó, cũng có nhiều thế hệ thầy cô giáo đứng lớp, nhưng ấn tượng về hình ảnh cô giáo Yến vẫn còn in đậm trong tâm trí nhiều cán bộ của huyện, nhất là đội ngũ các y, bác sỹ và nhân viên điều dưỡng của bệnh viện đa khoa huyện Khánh Sơn.

  4. Nữ Phát thanh đài Truyền hình Khánh Hòa đầu tiên

  Năm 2003, theo chủ trương của tỉnh ủy, yêu cầu Đài PT-TH Khánh Hòa phải sớm xây dựng chuyện mục thời sự phát bằng tiếng dân tộc Raglai trên sóng KTV, hai tuần một bản tin, quả thực đây là một việc không hề dễ cho nhà đài. Lúc đó ông Trương Tấn Minh, là trưởng phòng thời sự đài PT-TH Khánh Hòa tức tốc lên gặp UBND huyện Khánh Sơn để cầu cứu. Sau khi nghe nhà đài trình bày việc tuyển chọn nhân sự cho khâu biên dịch (từ tiếng Kinh qua tiếng dân tộc) và nhân sự quan trọng nhất là phát thanh viên gồm 1 nam 1 nữ.

  Nhân sự cho khâu biên dịch thì huyện có anh Mấu Quốc Tiến, cán bộ phòng văn hóa thông tin huyện, nguyên là thành viên nhóm nghiên cứu, sưu tầm chữ viết Raglai. Còn nhân sự phát thanh viên quả thực không dễ, vì tiêu chuẩn của một phát thanh viên đòi hỏi rất cao có giọng đọc chuẩn, chính xác, rõ ràng; ngoài ra phải có khuông mặt sáng, tươi tắn và thật tự tin trước ống kính.

  Người đầu tiên tôi nghĩ đến lúc đó là chị Yến, vì tôi biết chị có giọng đọc chuẩn, khuôn mặt xinh tươi, còn việc tự tin trước ống kính thì quả thực tôi rất e ngại. Tôi nhớ lại cái lần chị Châu Lê Thịnh biên tập viên đài PH-TH đi gặp mặt và phóng vấn ghi hình. Hôm đó đến khu tập thể trường phổ thông dân tộc nội trú huyện gặp chị, tôi thấy chị là người nhút nhát, ngại ngùng khi tiếp xúc với người lạ. 

  Đến giai đoạn ghi hình và trả lời câu hỏi của nhà báo thì quả thực đúng như điều tôi lo ngại, cảnh ghi hình được quay tại sân của nhà trường, đứng trước ống kính, trước đồng nghiệp và học sinh người chị gần như bất động, không thể diễn đạt được câu hỏi nào của phóng viên, vì đây là chuyên mục phụ nữ được phát hàng tuần theo chủ đề đăng ký chọn trước của đài. 

  Các phóng viên hết sức hoang mang, sợ không có bài để lên sóng, nhìn cảnh lúc đó tôi thật sự bối rối vì người bị hỏi thì mặt mày đỏ ửng, miệng ấp a, ấp úng. Người phỏng vấn thì luôn miệng an ủi, động viên, gợi ý câu trả lời, nét mặt lộ rõ sự thất vọng.

  Trước tình thế đó tôi phải nói các thầy cô, cùng học sinh (di tản) đi hết. Với kinh nghiệm của mình, chị Châu Lê Thịnh đã hướng dẫn tận tình và động viên nhờ đó chị Bo Bo Thị Yến mới ổn định tâm lý và bắt đầu trả lời phỏng vấn, cuối cùng buổi phóng vấn đầu tiên cũng tương đối ổn và chương trình cũng được phát sóng đúng lịch. Khi tôi giới thiệu cho nhà đài 4 người (2 nam 2 nữ) để nhà đài tuyển lựa, chị là người được nhà đài tuyển chọn đầu tiên. 

  Thế rồi chuyên mục tiếng Raglai cũng được phát sóng đúng lịch 2 tuần một lần, thời lượng khoảng 15 phút. Sau này mỗi khi đến chương trình tôi luôn theo dõi. Sau tiếng nhạc từ bộ đàn đá phát tín hiệu của chương trình, là gương mặt chị xuất hiện với vẻ mặt rất chuyên nghiệp của một phát thanh viên với giọng đọc trong trẻo, mắt luôn nhìn thẳng, miệng tươi cười sáng trong như suối nguồn của buông làng RagLai và rất tự tin trong bộ trang phục truyền thống dân tộc. Chị làm phát thanh viên cho chương trình tiếng Raglai Đài PT-TH Khánh Hòa từ năm 2003 đến 2007, do phải làm nhiệm vụ Đại biểu Quốc hội bận nhiều việc nên chị không làm phát thanh viên nữa.

  Năm nay chị vừa tròn 40 tuổi, cái tuổi thật chín chắn, với bao hoài bão, ấp ủ, chị muốn làm thật nhiều điều cho quê hương, cho dân tộc mình. Mỗi lần gặp, chị thường tâm sự, quê hương mình, dân tộc mình đã có nhiều thay đổi, về cơ sở hạ tầng đường giao thông, điện thắp sáng, nước sinh hoạt đã đến tận nhà, từng thôn. Các xã đều có trạm Y tế, nhất là hệ thống trường học được xây dựng mới rất khang trang, sạch đẹp, từ trường mẫu giáo đến trung học phổ thông, tỷ lệ học sinh đến trường ngày càng đông, công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được quan tâm, dịch bệnh đã giảm nhiều; các hoạt động văn hóa dân tộc được khôi phục gắn với việc xây dựng phong trào đời sống văn hóa ở cơ sở và chương trình xây dựng nông thôn mới. 

  Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều trăn trở, chị tâm sự: Dù đã được tỉnh, huyện quan tâm đầu tư nhiều, nhưng đời sống của đồng bào địa phương vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo theo chuẩn mới, chỉ chiếm trên 63,82%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi còn trên 30%, tỷ lệ học sinh bỏ học tuy giảm, song vẫn còn ở mức cao. Điều làm chị buồn nhất là tình trạng tảo hôn trong cộng đồng dân tộc, tuy không nhiều nhưng vẫn còn xảy ra ở một số nơi, nhất là đối với nữ học sinh, thường hay bỏ học để về (bắt chồng) hoặc làm nương rẫy.

  Tôi biết những khó khăn mà chị luôn luôn trăn trở bức xúc cũng là nỗi niềm chung của vùng đồng bào dân tộc miền núi. Song về cái nhân, tôi tin tưởng trên cương vị hiện nay của chị, với những kinh nghiệm đã từng trải qua, từ khi chị còn là cô giáo, rồi đến Giám đốc trung tâm bồi dưỡng lý luận chính trị huyện, Chánh Văn phòng UBND huyện và Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã, nhất là kinh nghiệm có được khi tham gia hoạt động tại Nghị trường Quốc hội, sẽ giúp cho Chị (vừa hồng vừa chuyên), góp phần cùng tập thể UBND huyện thực hiện thành công những điều mà chị luôn luôn nung nấu ấp ủ.
Chia tay chị, tôi tin rằng tiếp sau đây chị sẽ có thêm nhiều cái “nhất” nữa, để mãi mãi tỏa ngát như hương thơm của cây Tô Hạp quê mình. 


Nguyễn Quốc Thịnh - Phó Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh












Độ ẩm:
Sức gió:

Đang online: 66

Số lượt truy cập: 1142409