[Đăng ngày: 12/02/2017]

BÁO CÁO
Kết quả giám sát việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2011 - 2016


  Thực hiện Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định số 20/QĐ-HĐND ngày 10/10/2016 của Thường trực HĐND tỉnh, ngày 28/12/2016 Đoàn giám sát đã tiến hành giám sát việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2011 - 2016 từ tháng 10/2011 đến tháng 3/2016.

  Đoàn giám sát đã tiến hành giám sát qua báo cáo và giám sát trực tiếp đối với UBND tỉnh Khánh Hòa và các Sở Tư pháp, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính. Trên cơ sở báo cáo của Đoàn giám sát, Thường trực HĐND tỉnh báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh kết quả giám sát cụ thể như sau:

  I. Đánh giá việc thực hiện rà soát, xử lý kết quả rà soát và tổ chức thực hiện Nghị quyết quy phạm pháp luật

  1. Việc thực hiện rà soát và xử lý kết quả rà soát

  Trên cơ sở Quyết định 20/QĐ-HĐND ngày 10/10/2016 của Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã có Báo cáo số 250/BC-UBND ngày 27/12/2016 về rà soát, đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2011-2016, cụ thể như sau:

  - Kết quả rà soát: Tổng số Nghị quyết quy phạm pháp luật được rà soát là 97 Nghị quyết, trong đó:

  + Tổng số Nghị quyết quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ: 24 văn bản.

  Nguyên nhân: do hết thời gian thực hiện Nghị quyết quy phạm pháp luật; bị thay thế, bãi bỏ bởi Nghị quyết quy phạm pháp luật khác; đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết quy phạm pháp luật không còn được quy định trong các văn bản của cơ quan Trung ương; căn cứ dùng để ban hành Nghị quyết quy phạm pháp luật hết hiệu lực.

  + Tổng số Nghị quyết quy phạm pháp luật đang áp dụng nhưng nội dung không còn phù hợp với quy định hiện hành: 36 văn bản.

  Nguyên nhân: do thay đổi quy định pháp luật có liên quan đến nội dung Nghị quyết quy phạm pháp luật; thẩm quyền ban hành Nghị quyết quy phạm pháp luật thay đổi; đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết quy phạm pháp luật không còn được quy định trong các văn bản của cơ quan Trung ương; căn cứ dùng để ban hành Nghị quyết bị thay thế, sửa đổi, bổ sung; 

  + Tổng số Nghị quyết quy phạm pháp luật còn áp dụng: 37 văn bản.

  - Xử lý kết quả rà soát:

  Trên cơ sở kết quả rà soát, UBND tỉnh sẽ trình HĐND tỉnh ban hành các Nghị quyết về các nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp với quy định hiện hành.

  Nhìn chung, UBND tỉnh đã nghiêm túc, tích cực rà soát và lập danh mục các văn bản theo yêu cầu giám sát; trích dẫn được tương đối đầy đủ các Nghị quyết quy phạm pháp luật thuộc phạm vi rà soát trên nhiều lĩnh vực như tài chính, y tế, văn hóa, thể thao, nội vụ, tư pháp; xác định được cơ bản hiệu lực của Nghị quyết quy phạm pháp luật; có những đánh giá chung về sự phù hợp của Nghị quyết so với quy định pháp luật hiện hành và điều kiện thực tế của địa phương. 

  2. Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết quy phạm pháp luật

  Trên cơ sở các Nghị quyết quy phạm pháp luật được HĐND tỉnh thông qua, UBND tỉnh đã tổ chức thực hiện đồng bộ, đầy đủ trên địa bàn tỉnh; các cơ quan chuyên môn đã tham mưu kịp thời các văn bản để triển khai các Nghị quyết quy phạm pháp luật đi vào đời sống, thực hiện tốt chính sách để chăm lo, nâng cao đời sống người dân; góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ổn định chính trị, kinh tế, văn hóa; góp phần hiệu quả vào công cuộc phát triển, đổi mới trên địa bàn toàn tỉnh.

  Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết quy phạm pháp luật trong một số lĩnh vực còn gặp nhiều khó khăn như:

  - Nghị quyết số 19/2011/NQ-HĐND ngày 08/12/2011 của HĐND tỉnh về mức chi và chế độ hỗ trợ kinh phí cho đề tài khoa học và công nghệ cấp cơ sở từ ngân sách nhà nước tỉnh Khánh Hòa:

  + Các đơn vị chủ trì, thực hiện đề tài cấp cơ sở lúng túng trong việc hướng dẫn các chủ nhiệm đề tài xây dựng đề cương, kinh phí thực hiện đề tài, công tác quản lý, thẩm định kinh phí thực hiện đề tài.

  + Định mức kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ đối với các đề tài cấp cơ sở còn thấp so với điều kiện thực tế khi triển khai (chi phí chuyên đề đối với các đề tài nghiên cứu, ứng dụng thực tiễn như nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế tạo…chỉ được cấp 10 triệu đồng; định mức chi cho Hội đồng tư vấn, xét duyệt, nghiệm thu thấp; kinh phí hội thảo khoa học thấp…).

  Hiện nay, Nghị quyết này không còn phù hợp với Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và tình hình phát triển kinh tế - xã hội, cũng như yêu cầu đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở ngày càng cao.

  - Nghị quyết số 10/2013/NQ-HĐND ngày 11/12/2013 của HĐND tỉnh về quy định chức danh, số lượng, mức phụ cấp, chế độ đối với người hoạt động không chuyên trách và mức hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn và ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa:

  + Quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; quy định nhân viên Thú y là chức danh không chuyên trách theo quy định pháp luật mới chưa được bổ sung vào nội dung Nghị quyết.

  + Nhiều kiến nghị của người dân về việc tăng mức phụ cấp hiện đang ở mức thấp.

  - Nghị quyết số 21/2012/NQ-HĐND ngày 29/6/2012 của HĐND tỉnh về mức hỗ trợ vốn ngân sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới:

  + Phong trào xây dựng nông thôn mới không đồng đều giữa các vùng miền, nhất là các địa phương vùng miền núi, vùng đặc biệt khó khăn có tốc độ phát xây dựng nông thôn còn chậm;

  + Các địa phương mới tập trung chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng, trong khi đó phát triển sản xuất nâng cao thu nhập, cải thiện môi trường chưa thực sự chuyển biến mạnh;

  + Việc đào tạo, tập huấn chưa đạt chất lượng cao do trình độ của cán bộ cấp xã và cán bộ thôn không đồng đều, ảnh hưởng đến việc tiếp thu về mục đích, nội dung, nguyên tắc và phương pháp xây dựng nông thôn mới.

  - Nghị quyết số 24/2012/NQ-HĐND ngày 04/12/2012 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2013 - 2015:

  + Nguồn kinh phí phân bổ vốn hỗ trợ các mô hình sản xuất không được cấp ngay đầu năm để kịp thời vụ sản xuất; việc cấp vốn thường rơi vào thời điểm 6 tháng cuối năm nên gặp thời tiết bất lợi (hạn hán, mưa lũ…), dịch bệnh gây hại trong sản xuất nông nghiệp.

  + Một số hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có nguồn vốn để đối ứng (30% đối với các xã miền núi và 50% đối với các xã đồng bằng) và không thể tiếp cận được nguồn vốn này, ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của các hộ dân, đặc biệt với 02 huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh.

  + Một số địa phương chưa xác định được cây con chủ lực có thế mạnh trên địa bàn dẫn đến việc hỗ trợ mang tính chất dàn trải, hỗ trợ bình quân.

  + Điều kiện sản xuất, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được việc chủ động tưới tiêu với một số loại cây trồng….

  Tại kỳ họp thứ 03, HĐND tỉnh khóa VI đã thông qua Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 10/2013/NQ-HĐND ngày 11/12/2013; Nghị quyết về mức hỗ trợ ngân sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 và Nghị quyết về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và dịch vụ nông thôn trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2017 - 2020, nhằm góp phần giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện.

  Đối với lĩnh vực phí và lệ phí, trên cơ sở quy định mới của Luật phí và lệ phí năm 2015 và Thông tư số 250/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về nhiều loại phí chuyển sang cơ chế giá dịch vụ do Nhà nước định giá và các loại phí, lệ phí khác thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh khóa VI, kỳ họp thứ 3 ban hành 17 Nghị quyết quy định 16 loại phí và 07 loại lệ phí. Các loại phí còn lại sẽ được UBND trình HĐND tỉnh ban hành khi phát sinh đối tượng thu, nội dung thu và khi có hướng dẫn cụ thể về mức thu của cơ quan Trung ương. 

  3. Mặt đạt được

  - Công tác rà soát về cơ bản đã được thực hiện tổng thể trên nhiều lĩnh vực, phát hiện được những văn bản không còn hiệu lực, văn bản có nội dung không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trên cơ sở kết quả rà soát, UBND tỉnh sẽ tiến hành xử lý các văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ cho phù hợp.

  - Bên cạnh đó, thông qua hoạt động rà soát, UBND tỉnh có điều kiện đánh giá chất lượng công tác xây dựng văn bản thuộc trách nhiệm của cơ quan mình.

  - Các Nghị quyết quy phạm pháp luật do HĐND ban hành đã được UBND tỉnh triển khai thi hành kịp thời, đảm bảo phù hợp với hệ thống pháp luật và thực tiễn của địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự của tỉnh nhà.

  4. Hạn chế và tồn tại

  - Ủy ban nhân dân tỉnh chưa thật quan tâm chỉ đạo thường xuyên công tác rà soát văn bản. Việc rà soát chưa bao quát hết phạm vi rà soát; chưa nêu cụ thể hướng xử lý các văn bản được rà soát; một số giải trình về nội dung không phù hợp của Nghị quyết quy phạm pháp luật còn chung chung, chưa có cơ sở vững chắc để tham mưu nội dung sửa đổi, bổ sung phù hợp.

  - Nhận thức về trách nhiệm thực hiện công tác rà soát của một số cơ quan còn hạn chế khi xem đây là nhiệm vụ của Sở Tư pháp và các tổ chức pháp chế, dẫn tới không chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn với các tổ chức pháp chế, Sở Tư pháp; một số cơ quan còn chờ văn bản hướng dẫn của cơ quan Trung ương mới thực hiện việc tham mưu xử lý kết quả rà soát, dẫn đến việc thực hiện công tác này đôi lúc còn chậm.

  - Việc triển khai công tác rà soát hầu hết chú trọng vào hiệu lực của văn bản mà ít chú trọng vào phần nội dung để phát hiện quy định trái, mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản quy phạm pháp luật khác, điều này làm giảm hiệu quả, ý nghĩa của công tác rà soát đối với việc xây dựng và thi hành pháp luật.
- Biên chế phục vụ công tác rà soát văn bản còn thiếu, chủ yếu là kiêm nhiệm, trong khi các tổ chức pháp chế và Sở Tư pháp hiện nay đang được giao thực hiện rất nhiều nhiệm vụ mới. Ngoài ra, công tác rà soát văn bản đòi hỏi người thực hiện phải có kiến thức về pháp luật và kiến thức chuyên môn về lĩnh vực văn bản điều chỉnh.

  II. Những đề nghị của Thường trực HĐND tỉnh

  Để việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như việc rà soát, tổ chức thực hiện các Nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa kịp thời, đạt hiệu quả cao và khắc phục được những hạn chế trong thời gian tới, Thường trực HĐND tỉnh đề nghị:

  1. Đối với UBND tỉnh:

  a) Các Nghị quyết quy phạm pháp luật qua rà soát đã hết hiệu lực, UBND tỉnh tổ chức công bố hoặc trình Thường trực HĐND tỉnh công bố danh mục văn bản hết hiệu lực theo đúng quy định tại Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Nghị định 34/2016).

  b) Đối với các Nghị quyết quy phạm pháp luật không còn phù hợp với quy định hiện hành hoặc gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện, UBND tỉnh tiếp tục nghiên cứu và trình HĐND tỉnh nội dung sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp.

  c) Khẩn trương chỉ đạo các Sở, ngành tham mưu UBND tỉnh triển khai thực hiện các nghị quyết về phí và lệ phí được HĐND tỉnh khóa VI, kỳ họp thứ 3 thông qua. 

  d) Đối với các loại phí chuyển sang giá dịch vụ do Nhà nước định giá theo Luật phí và lệ phí năm 2015, UBND tỉnh khẩn trương ban hành các quyết định để thống nhất thực hiện trên địa bàn tỉnh, đảm bảo thực hiện đúng theo quy định hiện hành.

  đ) Tăng cường theo dõi, kiểm tra và hướng dẫn việc triển khai công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND cấp huyện, cấp xã theo quy định; thường xuyên rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của UBND và HĐND tỉnh ban hành để kịp thời xử lý theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

  e) Xây dựng và ban hành kế hoạch rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật định kỳ theo quy định của Nghị định 34/2016.

  g) Tiến hành rà soát văn bản quy phạm pháp luật do HĐND tỉnh ban hành trước tháng 3/2011, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục - đào tạo, xử lý theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và báo cáo Thường trực HĐND tỉnh trước tháng 4/2017.

  2. Đề nghị các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh chủ động thực hiện công tác rà soát theo lĩnh vực ngay khi có căn cứ rà soát theo quy định, kịp thời xử lý hoặc tham mưu UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản mới, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

  Bên cạnh đó, cần tăng cường kết nối, trao đổi thông tin và phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan chuyên môn với Sở Tư pháp, các tổ chức pháp chế nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác rà soát.

  3. Từ ngày 01/01/2017, đề nghị UBND tỉnh trong việc trình HĐND ban hành Nghị quyết quy phạm pháp luật cần tuân thủ chặt chẽ các quy trình, quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định 34/2016.

  Trên đây là báo cáo kết quả giám sát việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2011 - 2016 ban hành từ tháng 10/2011 đến tháng 3/2016. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh kính báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh./.











Độ ẩm:
Sức gió:

Đang online: 90

Số lượt truy cập: 1181627